Áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001 tại Công ty Kho vận Đá bạc – VINACOMIN

1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp
Công ty Kho vận Đá Bạc - Vinacomin được thành lập ngày 16/9/2007 theo quyết định số 2077/QĐ-HĐQT của Hội đồng Quản trị Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Công ty là đảm nhận toàn bộ công việc giao nhận và tiêu thụ than của các Công ty vùng Uông Bí - Mạo Khê (phía Tây của vùng than Quảng Ninh) và cung cấp than cho Nhiệt điện Uông Bí. Công ty có 13 phòng ban chuyên môn, 04 phân xưởng sản xuất, 1 trung tâm điều hành sản xuất và một số đơn vị chức năng khác với 1.530 cán bộ công nhân viên chức.
 
2. Nhu cầu về xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001
Trong khi “Kinh tế xanh” đang được khuyến khích phát triển thì tình trạng lãng phí năng lượng với mức báo động cũng xảy ra ở nhiều quốc gia trên toàn cầu. Với tầm nhìn xa cho sự phát triển bền vững đồng thời thực thi phương châm “sống và làm việc theo pháp luật”, Công ty Kho vận Đá Bạc - Vinacomin đã nhanh chóng hướng các hoạt động Công ty tuân thủ các quy định của Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Ban Giám đốc Công ty đã xác định mục tiêu “cần xây dựng một chính sách phù hợp, trong đó việc Quản lý sử dụng năng lượng hiệu quả là vấn đề hết sức cần thiết, không gì khác hơn là tích hợp Hệ thống Quản lý Năng lượng vào hệ thống quản lý Chất lượng – Môi trường – An toàn sức khỏe nghề nghiệp”. 
Xuất phát từ việc nghiên cứu điều kiện thực tiễn của Công ty liên quan phương diện sử dụng năng lượng, từ năm 2013 công tác triển khai ISO 50001 được lãnh đạo Công ty đặt quyết tâm triển khai áp dụng thông qua việc đưa ra những mục tiêu cụ thể như giảm lượng điện sử dụng trong hoạt động sản xuất của Cảng Điền Công và tòa nhà văn phòng làm việc, đánh giá hiệu suất năng lượng sử dụng hàng ngày. 
 
3. Quá trình về xây dựng, áp dụng ISO 50001 tại Công ty
3.1 Thông tin chung:
  • Thời gian thực hiện dự án: từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2013
  • Mục tiêu: Xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001:2011 cho một số khu vực sản xuất tại Công ty Kho vận Đá Bạc – Vinacomin.
  • Phạm vi áp dụng: Xây dựng hệ thống quản lý năng lượng cho Cảng Điền Công và khu vực tòa nhà văn phòng làm việc.
3.2 Đánh giá thực trạng doanh nghiệp
Để xác định thực trạng của doanh nghiệp so với các yêu cầu của hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001, quá trình đánh giá thực trạng được thực hiện như sau:
  • Xây dựng tiêu chí phục vụ cho việc khảo sát, điều tra và đánh giá chi tiết hoá đến từng công đoạn trong dây chuyền công nghệ, các thông số đặc trưng của mạng cung cấp điện, các chủng loại trang thiết bị với các thông số đặc trưng riêng.
  • Căn cứ các quy định của Nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả như: Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, các thông tư nghị định hướng dẫn thi hành Luật…
  • Gửi các biểu mẫu điều tra đã lập đến với đơn vị đã lựa chọn. 
  • Lập tổ công tác điều tra, khảo sát đến các đơn vị đã lựa chọn.
  • Đánh giá số liệu trong các phiếu điều tra gửi từ phía đơn vị (các loại năng lượng).
  • So sánh các số liệu khảo sát, điều tra từ thực tế với giá trị định mức giao khoán của Tập đoàn và qua các biểu mẫu điều tra, phân tích những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong tiêu thụ và sử dụng năng lượng tại mỗi đơn vị.
  • Đánh giá việc thực hiện các biện pháp quản lý, mô hình quản lý năng lượng của đơn vị (các quy định về tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả).
  • Đánh giá sơ bộ về những tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể có của đơn vị;
3.3 Các bước xây dựng hệ thống quản lý năng lượng
Quá trình xây dựng hệ thống quản lý năng lượng tại Công ty Kho vận Đá Bạc – Vinacomin được thực hiện theo các bước sau:
  • Phân tích hiện trạng/kiểm toán năng lượng;
  • Lập kế hoạch thực hiện;
  • Thành lập ban quản lý năng lượng;
  • Đào tạo nhận thức chung về hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001:2011;
  • Hướng dẫn về quản lý cơ sở dữ liệu năng lượng, thiết bị đo lường, công cụ thống kê;
  • Xem xét năng lượng/xây dựng đường cơ sở (xác định hiệu suất các thiết bị hiện hành, xây dựng đường cơ sở năng lượng tại PX. sàng tuyển, khu văn phòng). Viết báo cáo kiểm toán năng lượng.
  • Đào tạo phương pháp xây dựng hệ thống quản lý văn bản và soạn thảo tài liệu hệ thống quản lý năng lượng;
  • Xây dựng chính sách năng lượng/ mục tiêu và chỉ tiêu năng lượng/ kế hoạch hành động / chỉ số hiệu quả năng lượng và soạn thảo tài liệu hệ thống quản lý năng lượng;
  • Hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý năng lượng triển khai vào thực tế và hoàn thiện hồ sơ hệ thống quản lý năng lượng; 
  • Đào tạo phương pháp và kỹ năng đánh giá nội bộ EnMs; 
  • Kiểm tra việc vận hành và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng;
  • Tổ chức các cuộc đánh giá nội bộ và thực hiện hành động khắc phục/phòng ngừa;
  • Tổ chức họp xem xét của lãnh đạo về hiệu lực và hiệu quả của hệ thống quản lý năng lượng;
4. Kết quả xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý năng lượng
4.1 Nâng cao nhận thức, các kiến thức và giải pháp về tiết kiệm năng lượng  
Quá trình xây dựng hệ thống quản lý năng lượng đã triển khai khóa đào tạo nhận thức chung về tiêu chuẩn ISO 50001:2011 cho cán bộ công nhân viên và phương pháp xây dựng hệ thống văn bản cho các cán bộ thuộc ban quản lý năng lượng của Công ty.
 

Đào tạo xây dựng hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001

4.2 Xây dựng hệ thống quản lý văn bản, tài liệu và áp dụng thực tế
Ban ISO năng lượng đã xây dựng được 13 quy trình của hệ thống văn bản quản lý.

4.3 Kết quả tự đánh giá nội bộ về sự phù hợp của hệ thống
Hệ thống quản lý năng lượng của Công ty bước đầu đã đi vào vận hành và áp dụng trên thực tế, ý thức của cán bộ công nhân viên về tiết kiệm năng lượng tốt hơn rất nhiều so với đầu năm. 13 quy trình ISO đã được các phòng ban liên quan triển khai áp dụng trên thực tế, tuy nhiên vẫn phát sinh một số điểm tồn tại cần cải tiến theo kết quả đánh giá. Bước đầu các giải pháp kĩ thuật đã mang lại kết quả như kỳ vọng của Ban lãnh đạo theo dự kiến trước lúc đầu tư. Ban ISO đã phối hợp khá tốt với Điền Công, các bộ phận liên quan để kiểm soát chặt chẽ các SEUs đã triển khai giải pháp. Cần theo dõi một thời gian tiếp theo (hết năm 2013) để đánh giá hiệu quả đầu tư, làm cơ sở mở rộng cải tiến sang các khu vực, phân xưởng khác.
Về cơ bản các mục tiêu, chỉ tiêu năng lượng đều đạt theo dự kiến đặt ra, Ban ISO cần theo dõi một thời gian tiếp theo (hết năm 2013) để đánh giá hiệu quả đầu tư, làm cơ sở mở rộng cải tiến sang các khu vực, phân xưởng khác.

4.4 Kết quả thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng
a) Giải pháp lắp đặt tụ bù cho trạm biến áp 630kVA văn phòng Công ty 
Hiện tại, trạm biến áp 630 kVA Văn phòng Công ty mua trực tiếp từ điện lực Quảng Ninh. Kết quả đo kiểm công suất tiêu thụ và hệ số cosφ trong hai ngày 25÷26/4 cho thấy hệ số công suất có quy luật thay đổi theo khung giờ:
+ Giờ hành chính (từ 6:45÷18:00): hệ số công suất của trạm trong khoảng cosφ=0,75÷0,84.
+ Giờ nghỉ (từ 18:00÷6:45): hệ số công suất hoạt động trung bình của trạm cosφtb=0,9÷0,92.
Theo phân tích hiện trạng ở trên, việc đầu tư hệ thống bù cho trạm biến áp 630 kVA khu vực Văn phòng Công ty là hết sức cần thiết. Kết quả đo kiểm cho thấy công suất phản kháng tiêu thụ thực tế của trạm từ 32÷140kVAr tương ứng với hệ số mang tải của trạm là β≈36,63%. Dự phòng cho trạm khi hệ số mang tải tăng lên, lựa chọn bù có tổng dung lượng 250 kVAr với 5 tụ dung lượng 50 kVAr.
 

Biểu đồ công suất phản kháng TBA630kVA Văn phòng Công ty

b) Lắp bộ PLC điều khiển tốc độ các động cơ băng theo tải
Các băng tải vận chuyển than theo dây chuyền công nghệ sàng tuyển thường có tải trọng thay đổi liên tục, tuy nhiên hiện nay tốc độ của băng tải được đặt cố định, điều này làm lãng phí năng lượng duy trì tốc độ băng tải. Từ yếu tố trên chúng tôi đề nghị lắp đặt thiết bị phát hiện tải trọng trên mặt băng và từ đó điều khiển tốc độ động cơ băng thông qua biến tần của băng tải đó.
Theo kết quả đo kiểm và theo dõi vận hành của toàn hệ thống băng tải hiện Công ty đã lắp biến tần cho các hộ tiêu thụ năng lượng này tuy nhiên các biến tần không tự động điều khiển tốc độ động cơ theo tải trọng thực tế trên băng mà thông qua người vận hành điều chỉnh theo các cấp đặt tần số (3 cấp).
Hệ thống gồm 4 thành phần: PLC thu thập dữ liệu đánh giá tải trọng trên mặt băng và điều khiển tốc độ động cơ qua biến tần, biến tần dùng để điều chỉnh tốc độ động cơ, đồng hồ công suất để đo đạc đánh giá công suất tiêu thụ của động cơ, màn hình cảm ứng dùng để đặt và hiển thị thông số (tần số, số cấp điều khiển tốc độ, cài đặt thông số điều chỉnh tốc độ tương ứng tải trọng). Đầu tư 01 bộ PLC điều khiển tốc độ động cơ băng tải theo tải trọng thực tế trên băng.

c) Lắp đặt thiết bị điều khiển đóng cắt điều hòa theo nhiệt độ và thời gian
Căn cứ vào giờ làm việc hàng ngày và mục đích sử dụng của điều hòa từng phòng làm việc (điều hòa chỉ sử dụng vào giờ hành chính). Theo quy định sử dụng đúng và hiệu quả điều hòa, điều hòa chỉ được bật vào mùa hè với điều kiện nhiệt độ phòng làm việc >25oC, vào mùa động khi nhiệt độ <20oC.
Giải pháp triển khai một thiết bị hoạt động trên nguyên tắc:
+ Có tính thời gian thực, thiết bị cho phép đóng điện cho điều hòa vào thời gian đi làm từ 8h00 đến 17h30 hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 và không cho phép đóng điện cho điều hòa trong thời gian còn lại.
+ Vào những ngày đi làm, vào mùa hè thì nhiệt độ không gian làm việc có nhiệt độ >25oC vào mùa động khi nhiệt độ <20oC thì cho phép cấp điện vào điều hòa.
Kết quả tính toán đánh giá hiệu quả:
Để có thể theo dõi số liệu năng lượng tiêu thụ và tấn sản phẩm nhằm xác định chỉ số EnPIs trước và sau khi thực hiện các giải pháp quản lý, cải tiến. Nhóm tư vấn đã phối hợp cùng ban ISO năng lượng lập kế hoạch mua sắm, lắp đặt thiết bị cũng như đánh giá hiệu quả khi thực hiện giải pháp cải tiến tại các SEUs khu văn phòng và khu cảng Điền Công.
  

Lắp đồng hồ và đo kiểm thiết bị khu cảng điền công để xác định các SEUs

Các giải pháp cải tiến được thực hiện và mang lại hiệu quả tiết kiệm với chi phí tiết kiệm hàng năm ước tính là 126.092.000 đồng.

5. Bài học về thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai
5.1 Thuận lợi
  • Theo kết quả đánh giá hiện trạng quản lý năng lượng cho thấy, Công ty cũng đã thực hiện những quy định của Nhà về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Điều này cho thấy được sự quan tâm của Lãnh đạo Công ty về tiết kiệm năng lượng gắn với hoạt động kinh doanh. Coi tiết kiệm năng lượng là một trong những nguồn lợi nhuận thu lại khi ứng dụng đầu tư các giải pháp tiết kiệm. Đây cũng chính là những điều thuận lợi khi triển khai xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo ISO 50001:2011 tại Công ty Kho vận Đá Bạc – Vinacomin.
  • Công ty đã xây dựng và thực hiện kế hoạch hàng năm và năm năm về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả phù hợp với sản xuất kinh doanh; báo cáo Sở Công thương tỉnh Quảng Ninh kế quả thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng và hiệu quả.
  • Đã theo dõi nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thiết bị và toàn bộ dây chuyền sản xuất; sự biến động của nhu cầu tiêu thụ năng lượng liên quan đến việc lắp đặt mới, cải tạo, sửa chữa thiết bị sử dụng năng lượng; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định; 
  • Đã xây dựng kế hoạch năm năm và báo cáo thực hiện kế hoạch năm năm về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đăng ký với Sở Công thương tỉnh Quảng Ninh.
  • Công ty đã thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật, biện pháp quản lý và công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 
5.2 Khó khăn
Ngoài những thuận lợi khi triển khai xây dựng hệ thống quản lý năng lượng tại Công ty thì những khó khăn gặp phải khi triển khai là không nhỏ, cụ thể:
  • Những nội quy và quy chế về sử dụng năng lượng tiết kiệm năng lượng trước khi triển khai xây dựng hệ thống quản lý là chưa có.
  • Đa số cán bộ công nhân viên chưa có khái niệm về việc quản lý năng lượng theo một quy chuẩn nào. 
  • Những hình thức khen thưởng và xử lý vi phạm kịp thời để thực hiện tốt kế hoạch sử dụng năng lượng cũng chưa được triển khai sâu rộng, vẫn mang tính khuyến khích là chính.
  • Các đơn vị sản xuất trong Công ty đã lập sổ sách ghi chép, theo dõi nhu cầu tiêu thụ năng lượng theo chu kỳ tháng/năm của từng thiết bị và toàn bộ dây chuyền sản xuất, tình hình lắp đặt mới, cải tạo, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị sử dụng năng lượng của cơ sở. Tuy nhiên, dữ liệu từ hệ thống sổ sách ghi chép khi chuyển sang file mềm mặc định Word/Ecell cần rất nhiều thời gian, giảm năng suất lao động,… 
  • Việc đánh giá mức tiêu thụ của phân xưởng được lắp công tơ đo kiểm theo hình thức chốt số hàng tháng. Các dữ liệu tiêu thụ điện năng được cán bộ của phòng Cơ điện tự thống kê và so sánh để làm cơ sở đề xuất giao khoán điện năng tháng kế tiếp.
  • Điện năng tiêu thụ sau khi quyết toán từng tháng (hoặc từng Quý) được ký duyệt Lãnh đạo đơn vị, cán bộ quản lý phòng Cơ điện, đại diện phòng kế toán/ kế hoạch. Kế hoạch giao khoán tiêu thụ điện năng tháng tiếp theo được hội đồng phê duyệt, do vậy mất rất nhiều thời gian trong công tác chỉ đạo điều hành, dẫn đến chậm trễ trong sản xuất.
  • Theo khảo sát, các hồ sơ liên quan như: hóa đơn tiền điện, hóa đơn mua bán nhiên liệu, mua bán vật tư, hồ sơ duyệt mua bán vật tư,…phục vụ sản xuất được lưu trữ tại phòng Kế toán hoặc Vật tư tại mỗi đơn vị.
  • Cách thức quản lý, lưu trữ hồ sơ, xét duyệt mua các mặt hàng, thiết bị phục vụ sản xuất tại mỗi đơn vị đều khác nhau và được lưu trữ bằng các file cứng. Mỗi khi cần tìm thông tin, tổng hợp tài liệu, dữ liệu để làm báo cáo mất rất nhiều thời gian. 
  • Sự phối hợp, chia sẻ, tổng hợp thông tin khi cần làm báo cáo giữa các phòng ban tại mỗi đơn vị không cao, mất nhiều thủ tục cũng như thời gian liên lạc.
  • Công tác triển khai thực hiện tiết kiệm năng lượng tại Công ty vẫn mang tính nhỏ lẻ, chưa có chiến lược và lộ trình đầu tư rõ ràng về thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng. Việc đầu tư mua sắm thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng chỉ được đưa vào kế hoạch bổ sung thiết bị hàng năm, sau đó trình Tập đoàn TKV phê duyệt nên mất rất nhiều thời gian. 
Giấy phép số 2915/QĐ-BKHCN - Copyright © VNPI, ghi rõ nguồn khi sử dụng thông tin từ website này. Online: 38 Tổng truy cập: 765.461
Hotline: 0912293223