Tin tức

Trở về

Kết quả sơ bộ năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP với tăng trưởng kinh tế tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021–2025: thực trạng và xu hướng

Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả và phát triển bền vững của nền kinh tế

Thông qua phương pháp hạch toán tăng trưởng và dựa trên nguồn số liệu thống kê để đánh giá tác động của TFP vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021-2025 cho thấy rằng, TFP có sự gia tăng đáng kể với tốc độ tăng bình quân 3,42%/năm; tăng TFP có vai trò đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh, với mức đóng góp 40,91% và đang có xu hướng gia tăng. Với tính chất là năng suất các nhân tố tổng hợp, TFP chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: chất lượng lao động, tái cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư vốn, tiến bộ công nghệ và tăng cầu tiêu dùng... Các kết quả đánh giá thực trạng TFP và phân tích các yếu tố tác động tới TFP của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021-2025 được sử dụng làm cơ sở để đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh Điện Biên trong thời gian tới.

1. Đặt vấn đề 

Trong bối cảnh hội nhập và dịch chuyển mô hình phát triển, yêu cầu phát triển bền vững đòi hỏi nền kinh tế phải tối ưu hóa hai nguồn lực truyền thống là Vốn (K) và Lao động (L). Việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới quản trị sản xuất và nâng cao chất lượng nhân lực chính là chìa khóa để gia tăng Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). 

Đối với Điện Biên – một tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn – việc đánh giá định lượng đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021–2025 không chỉ phản ánh thực chất chất lượng tăng trưởng, mà còn là căn cứ thực tiễn quan trọng giúp địa phương hoạch định chính sách nâng cao năng suất và cạnh tranh kinh tế trong giai đoạn tới. 

2. Phương pháp nghiên cứu

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phản ánh hiệu quả sử dụng kết hợp lao động và đầu vào vốn được sử dụng trong quá trình sản xuất. Robert Solow và Trevor Swan (1956) [1] phát triển “Mô hình tân cổ điển” để giải thích các yếu tố vào tăng trưởng Y= A. Kα . Lβ ; Trong đó, Y là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một nền kinh tế,  K là vốn, L là lao động, A là “năng suất nhân tố tổng hợp” đại diện cho tiến bộ công nghệ làm cơ sở để phân tích, tính toán và đánh giá tốc độ tăng và tỷ phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP, số mũ α, β là hệ số co giãn của vốn (K) và lao động (L). Gia tăng A, K hoặc L đều làm tăng sản lượng (GDP). Tác động tăng trưởng kinh tế bởi 3 yếu tố, đó là tăng vốn, tăng lao động và tăng TFP. Robert Solow sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas để tính tăng trưởng TFP theo cách hiểu TFP là phần còn lại (số dư) sau khi đã trừ đi phần đóng góp của vốn và lao động, cách tiếp cận này được gọi là cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng. 

Để tính toán tốc độ tăng TFP, có thể có một số cách tiếp cận khác nhau: phương pháp phi tham số; phương pháp kinh tế lượng (phương pháp ước lượng OLS từ hàm sản xuất Cobb-Douglass, phương pháp bán tham số và phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên). Vì tính chất phổ biến của cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng khi đánh giá đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế và để phù hợp với cách lựa chọn phương pháp tính toán của cục Thống kê khi so sánh với toàn quốc, cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng được lựa chọn sử dụng khi tính tốc độ tăng TFP của địa phương. Trong bài viết này, phương pháp hạch toán tăng trưởng được sử dụng để tính toán tốc độ tăng TFP và đóng góp của tăng TFP vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh Điện Biên từ nguồn dữ liệu thống kê đã được tổng hợp.

3. Dữ liệu và xử lý dữ liệu

Khi tính toán tốc độ tăng TFP của tỉnh/thành phố (dựa trên công thức (1)) cần dựa trên cơ sở dữ liệu gồm: chỉ tiêu đầu ra là tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá so sánh (giá 2010) và các chỉ tiêu đầu vào là lao động làm việc bình quân năm và vốn cố định bình quân năm (theo giá so sánh 2010).

Chỉ tiêu GRDP theo giá so sánh và chỉ tiêu lao động bình quân năm đã được Cục Thống kê tính toán, tổng hợp và công bố trên Niên giám Thống kê hàng năm [2]. 

Số liệu để tính quy mô vốn không có sẵn và cũng không thể tổng hợp trực tiếp từ các đơn vị, các ngành để được con số tổng cộng chung toàn nền kinh tế, tuy nhiên, có thể khai thác, xử lý từ nguồn số liệu thống kê theo phương pháp sau:

Theo OECD (2001) [3], vốn phục vụ sản xuất (capital service) là thước đo thích hợp để phân tích năng suất. Do vốn phục vụ sản xuất thường không quan sát được trực tiếp, nên được ước tính bằng cách giả định rằng vốn phục vụ sản xuất tương ứng với một tỷ lệ trong quy mô vốn (capital stock) được chuyển vào phục vụ sản xuất theo từng năm. 

Theo công thức (2), số liệu cần có gồm: (i) dữ liệu về đầu tư (hoặc tích lũy tài sản) theo chuỗi thời gian, (ii) lượng vốn ban đầu tại thời điểm khi bắt đầu chuỗi thời gian và (iii) tỷ lệ khấu hao hàng năm.

Số liệu về đầu tư hàng năm có được từ nguồn số liệu của Cục Thống kê; số liệu về lượng vốn ban đầu không có trong số liệu thống kê nhưng có thể ước lượng bằng phương pháp kiểm kê thường xuyên (PIM - Perpetual Inventory Method). Ý tưởng của PIM là giải thích trữ lượng vốn của nền kinh tế như một lượng tồn kho. Trữ lượng tồn kho tăng cùng với tích lũy vốn (hoặc đầu tư vốn). Lượng vốn phục vụ tối đa là ngay sau khi đầu tư và giảm dần theo thời gian, lượng giảm mỗi kỳ theo tỷ lệ khấu hao. Cụ thể, với giả thiết khấu hao tài sản cố định hàng năm là 5%, để có trữ lượng vốn ban đầu vào năm 2014, thì cần có số liệu về đầu tư vốn cố định từ 1997, sau đó cộng tích lũy giá trị còn lại đến 2014 của từng năm từ 1997 đến 2014.

Phần thuộc về chi phí lao động (Lw) là: Thu nhập của lao động (đối với lao động làm công ăn lương) và thu nhập của lao động trong thu nhập hỗn hợp (đối với lao động tự doanh).

Phần thuộc về chi phí vốn là (Kr) là: thặng dư hoạt động, thu nhập từ vốn trong thu nhập hỗn hợp, thuế mua tài sản, thuế tài sản, khấu hao.

Như vậy, có thể tính WL (hoặc β) bằng cách tính tỷ trọng của chi phí lao động trong giá trị gia tăng (WL) = Thu nhập của Lao động/ Giá trị gia tăng.

Hệ số β có thể có thể tính được dựa trên số liệu từ Bảng I/O năm 2007, 2012 và 2016 của Tổng cục Thống kê, trong đó có số liệu về thu của người lao động và Giá trị gia tăng giá cơ bản. Sử dụng bảng I/O tính được hệ số β cho từng ngành. Khi tính toán ở giai đoạn 2016-2023 có thể lấy số liệu của năm 2016 làm chuẩn để quy đổi cho những năm khác. Khi áp dụng tính ở địa phương cần điều chỉnh theo cơ cấu kinh tế để ước lượng hệ số đóng góp của lao động.

4. Thực trạng tốc độ tăng TFP và đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021–2025

4.1. Kết quả tính toán tốc độ tăng TFP

Trên cơ sở số liệu về GRDP theo giá so sánh, vốn cố định bình quân năm, lao động đang làm việc trong nền kinh tế và hệ số co giãn của vốn, lao động trong hàm sản xuất Cobb–Douglas, nghiên cứu tiến hành tính toán tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016–2025. Kết quả được trình bày tại Bảng 1. 

Kết quả tính toán cho thấy tốc độ tăng TFP của tỉnh Điện Biên có sự biến động giữa các năm nhưng xu hướng chung là cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2021–2025. Bình quân giai đoạn này, TFP tăng 3,42%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 0,64%/năm của giai đoạn 2016–2020. Trong giai đoạn nghiên cứu, tốc độ tăng TFP đạt mức cao nhất vào năm 2022 (3,87%), tiếp theo là 2023 (3,81%), 2024 (3,70%) và 2025 (2,90%). Ngược lại, giai đoạn 2019–2020 ghi nhận mức tăng thấp, phản ánh sự biến động của hoạt động sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều tác động bất lợi. 

Nhìn chung, tốc độ tăng TFP của tỉnh Điện Biên có xu hướng cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2021–2025 so với giai đoạn trước. Mức tăng này là cơ sở để xem xét vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh thông qua phân tích tỷ phần đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và TFP ở mục tiếp theo.

4.2. Đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Điện Biên

Trên cơ sở kết quả tính toán tốc độ tăng trưởng của vốn, lao động và TFP, tỷ phần đóng góp của từng yếu tố vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Điện Biên được trình bày tại Bảng 2 và Hình 1.

Các nhận xét từ kết quả tăng TFP của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021-2025:

Tỷ phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021-2025 tăng lên 40,91% (so với mức 12,66% của giai đoạn trước). Sự cải thiện này phản ánh hiệu quả tích cực từ các nỗ lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Mặc dù vậy, mức 40,91% vẫn chưa đạt mục tiêu 45% của Trung ương và thấp hơn bình quân cả nước (46,2%), cho thấy không gian để tối ưu hóa năng suất của tỉnh còn rất rộng. 

Tỷ phần đóng góp của vốn đầu tư (TSCĐ) giai đoạn 2021-2025 giảm mạnh từ 62,99% xuống còn 41,01%. Điều này chứng minh Điện Biên đang dần loại bỏ mô hình tăng trưởng "bơm vốn" thuần túy để dịch chuyển sang sử dụng vốn hiệu quả hơn.

Đóng góp của lao động vào tăng trưởng duy trì ở mức thấp (18,07%). Sự gia hạn về quy mô lao động (tăng 2,43%/năm) cùng thực trạng chất lượng lao động qua đào tạo còn hạn chế khiến nhân tố này chưa tạo ra cú hích lớn cho GRDP. Cụ thể:

- Tăng trưởng kinh tế tích cực và có chiều sâu: GRDP tăng bình quân 8,35%/năm duy trì mức tăng khá cao sau đại dịch. So với giai đoạn 2016–2020, tăng trưởng giữ được động lực và ổn định hơn, dù trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến động.

- Vai trò chủ đạo của TFP trong tăng trưởng: TFP tăng bình quân 3,42%/năm – cao hơn giai đoạn trước (0,64%/năm). Đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt 40,91% – chưa đạt được mục tiêu của Trung ương (45%) và thấp hơn bình quân toàn quốc (46,2%), cho thấy Điện Biên chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa vào hiệu quả sử dụng vốn và lao động còn cao, đổi mới công nghệ, chuyển dịch cấu kinh tế có sự chuyển biến nhưng còn chậm chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế.

- Chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc chủ yếu vào tăng vốn Đóng góp của tăng vốn vào GRDP giảm còn 41,01%, so với 62,99% ở giai đoạn 2016–2020. Mặc dù đầu tư vẫn tăng, nhưng tăng trưởng dựa vào chất lượng vốn và hiệu quả sử dụng vốn hơn là số lượng vốn.

- Đóng góp của lao động cải thiện nhẹ nhưng vẫn thấp: Lao động tăng trung bình 1,51%/năm, đóng góp vào GRDP khoảng 18,07% – cải thiện so với trước (6%) nhưng vẫn rất hạn chế cho thấy giới hạn về tăng lao động làm việc và tăng việc làm ở địa ở địa phương.

Đây là kết quả tương đối khá và phù hợp với xu thế của một số tỉnh, thành phố khác. So với một số tỉnh như Cao Bằng, Bắc Kạn, Hòa Bình, tốc độ tăng TFP của tỉnh Điện Biên tương đồng với các tỉnh miền núi phía bắc và thấp hơn các tỉnh có nền công nghiệp phát triển như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, đây cũng là xu thế chung của toàn quốc.

Cũng theo số liệu tính toán ở bảng 2 cho thấy rằng tốc độ tăng TFP từ 2016 đến 2025 luôn đạt giá trị dương, ngoại trừ năm 2019-2020, như vậy, nếu ngoại trừ năm 2019-2020, tăng TFP luôn đóng góp làm tăng trưởng. Tương quan so sánh với đóng góp của các nhân tố tăng TSCĐ và tăng lao động cụ thể như sau: 

- Năm 2016- 2017 GRDP tăng nhanh đạt 6,28-6,9%, TFP tăng từ 1,5- 2,5% đóng góp vào tăng GRDP 31,33% đứng sau đóng góp của tăng vốn 

- Năm 2019-2020, do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, GRDP tăng nhưng tăng nhẹ chỉ đạt 2,9-4% trong lúc đó vốn không thay đổi làm cho đóng góp của tăng TFP giảm làm giảm GRDP 6-23% những năm này đóng góp tăng trưởng GRDP chủ yếu dụa vào vốn và lao động 

- Năm 2021 đến năm 2025, GRDP tăng nhanh và TFP tiếp tục tăng cao, TFP tiếp tục đóng góp đáng kể vào tăng GRDP.

Kết quả cho thấy, cơ cấu đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể giữa hai giai đoạn nghiên cứu. Nếu trong giai đoạn 2016–2020, tăng trưởng GRDP chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư với mức đóng góp bình quân 62,99%, thì sang giai đoạn 2021–2025, tỷ phần đóng góp của vốn giảm xuống còn 41,01%. Ngược lại, đóng góp của TFP tăng mạnh từ 12,66% lên 40,91%, trong khi đóng góp của lao động giảm từ khoảng 24,35% xuống 18,07%. 

Xét theo từng năm trong giai đoạn 2021–2025, tỷ phần đóng góp của TFP luôn duy trì ở mức cao, dao động từ 38,54% đến 43,13%. Đặc biệt, năm 2024, TFP đóng góp 43,13%, cao nhất trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi đóng góp của vốn giảm còn 38,70%. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn, lao động và trình độ tổ chức sản xuất của nền kinh tế đã có sự cải thiện rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng. 

Mặc dù vậy, mức đóng góp của TFP vẫn thấp hơn mục tiêu khoảng 45% theo định hướng của Trung ương và thấp hơn bình quân của cả nước. Điều đó cho thấy tỉnh Điện Biên vẫn còn nhiều dư địa để nâng cao năng suất tổng hợp thông qua đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện hiệu quả đầu tư và tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. 

4.3. Các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2021–2025

Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng

Trong giai đoạn 2021–2025, cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Đặc biệt, các ngành thương mại, vận tải, lưu trú, ăn uống và du lịch phục hồi và phát triển đã tạo ra giá trị tăng thêm cao hơn trên cùng một đơn vị vốn và lao động. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần phân bổ lại các nguồn lực sang những ngành có năng suất cao hơn, qua đó làm gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp của nền kinh tế.

Thứ hai, Nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy hiệu quả kết cấu hạ tầng

Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù vốn đầu tư vẫn là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, nhưng tỷ phần đóng góp của vốn đã giảm từ 62,99% trong giai đoạn 2016–2020 xuống còn 41,01% trong giai đoạn 2021–2025, trong khi đóng góp của TFP tăng lên 40,91%. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đã được cải thiện đáng kể.

Bên cạnh đó, nhiều công trình hạ tầng giao thông, đô thị, điện, nước và các dự án đầu tư công tiếp tục được hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất và dịch vụ. Sau giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, năng lực sản xuất được khôi phục nhanh, giúp nền kinh tế khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có mà không cần gia tăng tương ứng lượng vốn và lao động. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần nâng cao TFP của tỉnh trong giai đoạn nghiên cứu.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và kinh doanh ngày càng được quan tâm, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ. Cùng với đó, quá trình chuyển đổi số trong cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp đã góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng các nguồn lực sản xuất. Những yếu tố này đã góp phần cải thiện năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn, từ đó thúc đẩy tăng năng suất các nhân tố tổng hợp.

Thứ tư, chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng cao

Mặc dù tỷ phần đóng góp trực tiếp của lao động vào tăng trưởng GRDP chỉ đạt 18,07%, song chất lượng nguồn nhân lực đã có nhiều chuyển biến tích cực thông qua đào tạo nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, cũng như từng bước thích ứng với yêu cầu của chuyển đổi số và đổi mới công nghệ. Việc nâng cao chất lượng lao động đã góp phần tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả kết hợp giữa các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.

Thứ năm, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu quả quản trị và điều hành phát triển kinh tế

Trong những năm gần đây, tỉnh Điện Biên đã đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước. Các chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp, cùng với việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền các cấp đã góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và khuyến khích doanh nghiệp đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất tổng hợp của nền kinh tế.

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả nghiên cứu.

4.4. Đánh giá chung

Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Điện Biên trong giai đoạn 2021–2025 đã có sự cải thiện rõ rệt so với giai đoạn 2016–2020. Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) bình quân đạt 3,42%/năm, trong khi tỷ phần đóng góp của TFP vào tăng trưởng GRDP đạt 40,91%, tăng mạnh so với mức 12,66% của giai đoạn trước. Đồng thời, tỷ phần đóng góp của vốn đầu tư giảm từ 62,99% xuống còn 41,01%, còn đóng góp của lao động giảm xuống 18,07%. Những kết quả này cho thấy vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế ngày càng được nâng cao, phản ánh sự cải thiện về hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của nền kinh tế. 

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức tăng của TFP phản ánh sự cải thiện tổng hợp về hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế. Sự cải thiện này được thúc đẩy bởi nhiều nhân tố, nổi bật là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy hiệu quả kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cùng với cải thiện môi trường đầu tư, cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành phát triển kinh tế.

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, mức đóng góp của TFP vẫn chưa đạt mục tiêu khoảng 45% theo định hướng phát triển kinh tế của Trung ương và còn thấp hơn mức bình quân của cả nước. Điều đó cho thấy mô hình tăng trưởng của tỉnh vẫn còn phụ thuộc tương đối lớn vào vốn đầu tư, trong khi dư địa nâng cao năng suất thông qua đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực quản trị vẫn còn khá lớn. Vì vậy, trong thời gian tới, việc tiếp tục thúc đẩy các nhân tố làm gia tăng TFP sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Điện Biên.

5. Kết luận

Nghiên cứu đã vận dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng dựa trên hàm sản xuất Cobb–Douglas để lượng hóa tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và xác định tỷ phần đóng góp của vốn, lao động và TFP vào tăng trưởng GRDP của tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016–2025. Kết quả nghiên cứu cho thấy TFP đã có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2021–2025, với tốc độ tăng bình quân đạt 3,42%/năm và đóng góp 40,91% vào tăng trưởng GRDP, cao hơn đáng kể so với giai đoạn 2016–2020. Đồng thời, tỷ phần đóng góp của vốn giảm xuống còn 41,01%, trong khi đóng góp của lao động đạt 18,07%. Kết quả này phản ánh xu hướng chuyển dịch của mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Điện Biên từ phụ thuộc chủ yếu vào mở rộng các yếu tố đầu vào sang chú trọng hơn đến nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự gia tăng vai trò của TFP là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, bao gồm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; nâng cao hiệu quả đầu tư và phát huy hiệu quả kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; cùng với cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu quả quản trị, điều hành phát triển kinh tế. Các nhân tố này đã góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng các nguồn lực, tạo nền tảng cho việc cải thiện chất lượng tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, tỷ phần đóng góp của TFP vẫn chưa đạt mục tiêu khoảng 45% theo định hướng phát triển và còn thấp hơn mức bình quân của cả nước. Điều đó cho thấy tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn còn dư địa để tiếp tục nâng cao chất lượng thông qua đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng cường năng lực quản trị. Trong bối cảnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng ngày càng cao, việc tiếp tục gia tăng đóng góp của TFP sẽ là điều kiện quan trọng để nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và bảo đảm tăng trưởng kinh tế theo hướng nhanh, bền vững.

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất tỉnh Điện Biên tiếp tục ưu tiên các giải pháp nâng cao TFP thông qua thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị gia tăng. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống thông tin và dữ liệu thống kê phục vụ tính toán TFP, qua đó nâng cao chất lượng công tác phân tích, dự báo và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo.

6. Kiến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong toàn nền kinh tế. Đây được xem là động lực quan trọng nhất để nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Tỉnh cần khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và chuyển đổi số trong quản trị, sản xuất và kinh doanh; đồng thời thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các công nghệ mới.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với nhu cầu của thị trường lao động. Cần tăng cường đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng số và kỹ năng quản trị cho lực lượng lao động; gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng lao động. Đồng thời, có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ hiện đại để tạo động lực nâng cao năng suất lao động.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng giá trị gia tăng. Thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư, cần ưu tiên các dự án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, có khả năng lan tỏa và thúc đẩy năng suất của các ngành kinh tế. Đồng thời, tiếp tục phát triển các ngành có giá trị gia tăng lớn như công nghiệp chế biến, năng lượng, logistics, thương mại, du lịch và dịch vụ chất lượng cao, góp phần chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.

Thứ tư, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản trị và chất lượng điều hành phát triển kinh tế. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và cải thiện TFP.

Thứ năm, hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê phục vụ phân tích năng suất và hoạch định chính sách. Cần tiếp tục chuẩn hóa cơ sở dữ liệu về vốn, lao động và năng suất; từng bước hoàn thiện phương pháp tính TFP cấp địa phương theo hướng thống nhất với Trung ương. Đồng thời, tăng cường ứng dụng dữ liệu số và phân tích thống kê hiện đại trong đánh giá chất lượng tăng trưởng, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và điều hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ sáu, xây dựng mục tiêu nâng cao tỷ phần đóng góp của TFP trong tăng trưởng GRDP giai đoạn tới. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tỉnh cần phấn đấu đưa tỷ phần đóng góp của TFP đạt từ 45% trở lên, tiệm cận mức bình quân của cả nước và phù hợp với định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng của Trung ương. Việc theo dõi thường xuyên chỉ tiêu TFP sẽ giúp đánh giá đúng chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và hướng tới phát triển kinh tế nhanh, bền vững.

Tài liệu tham khảo

[1] Robert Solow (1956), ‘A Contribution to the theory of economic growth’, Quarterly Journal of Economics, 70 (February): 65–94.

[2] Thống kê tỉnh Điện Biên, Niên giám thống kê 2020-2024.

[3] Thống kê tỉnh Điện Biên, Báo cáo Kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên tháng, quý, năm (2016-2025).

[4] Viện Năng suất Việt Nam, Báo cáo Năng suất Việt Nam 2025.

[5] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) 2024.

[6] OECD (2001), Measuring Productivity OECD Manual, Measurement of Aggregate and Industry – Level Productivity Growth, OECD Publications.

Tác giả bài viết: Th.s Bùi Văn Thường, Đỗ Ngọc Tuấn, Nguyễn Văn Cường - Thống kê tỉnh Điện Biên

https://thongkedienbien.nso.gov.vn